Tìm hiểu bệnh lý trượt đốt sống

Trượt đốt sống (spondylolisthesis) là biểu hiện sự trượt của thân đốt sống phía trên ra trước so với đốt sống ở dưới nó. Bệnh lý này hay xảy ra ở đốt sống L5 (giữa L5 và Sl) chiếm khoảng 70%, rồi đến đốt sống L4 (khoảng 25%), chỉ có khoảng 5% trường hợp trượt ờ các đốt sống phía trên.

Sự vững chắc của khoang gian các đốt sống được bảo đảm bởi đĩa đệm ở giữa 2 đốt sống đó, khớp liên mấu và các dây chằng. Bất cứ nguyên nhân gì gây tổn thương, làm suy yếu các tổ chức trên đều có thể gây nên trượt đốt sống. Có thể chia trượt đốt sống làm 5 loại sau đây:

  • Trượt đất sống do ưỡn quá mức cột sống thắt lưng: ưỡn quá mức cột sống thắt lưng có thể làm gãy ở khoang liên mấu, khớp liên mấu sẽ mất tác dụng giữ sự đảm bảo vững chắc của khớp liên đốt sống, dẫn đến trượt đốt sống.
  • Trượt đốt sống bẩm sinh: những thiếu sót bẩm sinh của các cấu trúc đảm bảo cho sự vững chắc của khớp liên đốt sống mấu kể trên dẫn đến trượt đốt sống bẩm sinh, loại này ít gặp.
  • Trượt đốt sống thoái hoá: do thoái hoá các cấu trúc trên dẫn đến trượt đốt sống, quá trình bệnh lý sẽ tiến triển theo tuổi tác.
  • Trượt đốt sống do dài cuống cung sống: cuống cung sống dài hơn bình thường làm cho thân đốt sống trượt về phía trước, nó có thể xảy ra do cuống cung sống bị cẳng kéo.

– Trượt đốt sống do bệnh lý gây tổn thương xương thân đốt sống như: lao, ung thư, rối loạn chuyên hoá v.v…

Trượt đốt sống (spondylolisthesis): Ảnh minh họa

Căn cứ vào mức độ di lệch của thân đốt sống ở trên ra phía trước so với thân đốt sống ở dưới, có thể chia ra làm 4 mức độ, từ độ 1 (trượt 1/4 thân đốt) đến độ 4 (trượt cả thân đốt).

Biểu hiện lâm sàng:

Biểu hiện chủ yếu là cột sống thắt lưng bị cong ưỡn về phía trước quá mức, ở những trường hợp bẩm sinh hoặc bệnh tiến triển từ từ, hầu hết bệnh nhân không có biểu hiện các triệu chứng về rễ thần kinh. Các triệu chứng thuộc về hội chứng cột sống thể hiện như: giảm vận động của cột sống thắt lưng, nhất là động tác cúi, đau tại đốt sống bị trượt.

Bệnh nhân cảm thấy cột sống cứng, khó cúi xuống hoặc đứng thẳng lên. ở những người trẻ (10 – 12 tuổi) bị trượt đốt sống thường thấy có biểu hiện căng các cơ ở sau cẳng chân, một số trường hợp bệnh nhân bị đau ở thắt lưng, lan xuống mông và cổ khi lan xuống cẳng chân, có dấu hiệu Lasègue (+). Mức độ nặng có thể gây hội chứng chèn ép đuôi ngựa.

Điều trị: chủ yếu là điều trị bảo tồn như: kéo giãn, deo dai cố định cột sống thắt lưng.

Khi mức độ trượt cột sống nặng, bệnh nhân còn trẻ, có chỉ định phẫu thuật để đưa đốt sống về vị trí bình thường và cố định với đốt sống phía dưới. Trong khi cô định cột sống thắt lưng cần tập vận động các phần khác của cột sống cũng như các cơ khớp, để tránh teo cơ và cứng khớp.

Phòng bệnh:

Cần phát hiện và điều trị sớm những bệnh lý có thể dẫn đến trượt đốt sống như đã nêu ở trên, ở những người đã bị bệnh lý đó cần tránh các chấn thương, dù trực tiếp hay gián tiếp, làm trượt đốt sống.

Viêm khớp cùng – chậu biểu hiện chủ yếu bằng đau tai chỗ khớp viêm, đau thể hiện rõ khi ấn dọc theo khe khớp. Có thể làm những test để phát hiện đau khớp cùng – chậu như sau:

Bệnh nhân nằm nghiêng, hai chân duỗi thẳng, người khám đè ép lên vùng gai chậu trước – trên, gáy đau tảng ở khớp cùng – chậu.

Bệnh nhân nằm nghiêng, hai chân duỗi thẳng như trên, bệnh nhân duỗi căng các cơ ở chân, người khám nâng cao đùi của bệnh nhân lên gây đau tăng ở khớp cùng – chậu.

Bệnh nhân nằm ngửa, một chân duỗi thẳng, người khám gấp cẳng chân bên kia vào đùi và gấp áp đùi vào bụng, gây đau ở khớp cùng – chậu.

Bệnh nhân nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng, người khám đè ép lên gai chậu trước – trên ở hai bên (ép ngửa khung chậu) gây đau ờ khớp cùng – chậu.

Dựa theo hình ảnh tổn thương trên phim X quang, người ta chia ra 4 độ viêm khớp cùng – chậu:

Viêm khớp cùng – chậu độ I: bờ khe khớp mờ. chưa có biểu hiện hẹp khe khớp.

Viêm khe khớp cùng – chậu độ II: có biểu hiện khe khớp bị hẹp. bò khe khớp mờ.

Viêm khớp cùng – chậu độ III: bờ khe khớp mờ hoàn toàn, khe khớp hẹp và đã có chỗ dính khớp.

Viêm khớp cùng – chậu độ IV: khe khớp mờ hoàn toàn, dính khớp toàn bộ, không phân biệt được khớp cùng – chậu nữa.

Trong bệnh viêm cột sống dính khớp bao giờ cũng có viêm khớp cùng – chậu hai bên ờ độ III hoặc độ IV.

Viêm khớp vùng chậu cũng có thể là nguyên nhân gây viêm các rễ thần kinh cùng (Sl – S2 – S3) gây đau các rễ có lan theo dây thần kinh hông to.

Điều trị: dùng thuốc chống viêm, giảm đau và an thần.

Recommended For You

About the Author: Phạm Huyền